Chương 6: Những năm tháng ở Buôn Hô – Ngôi trường và những con người thân thương (1973–1975)
Buôn Hô, quận lỵ nằm cách Ban Mê Thuột chừng bốn mươi cây số, bây giờ đã trở thành một thị xã sầm uất. Nhưng nửa thế kỷ trước, khi tôi mới được điều về làm Hiệu trưởng Trung học Tỉnh hạt Buôn Hô, nơi này hãy còn thanh vắng và đơn sơ lắm.
Những con đường đất đỏ ngoằn ngoèo, hai bên là những rẫy cà phê, tiêu, bắp; sáng sớm, sương núi phủ nhẹ trên mái nhà sàn và hàng thông rì rào trong gió.
Thời gian đầu, tôi tạm trú trong nhà xứ của cha Nguyễn Văn Niệm, vị linh mục chánh xứ hiền từ và nhân hậu.
Nhà thờ Buôn Hô lúc ấy vừa là trung tâm sinh hoạt tôn giáo, vừa là nơi nương tựa tinh thần cho nhiều người giáo dân, thầy cô giáo xa quê như chúng tôi.
Từ nhà thờ ra đến trường chỉ một quãng ngắn, con đường đất đỏ quanh co, mỗi buổi sáng tôi chạy chiếc xe honda tới trường, qua mấy hàng cây cà phê trổ hoa trắng thơm ngát – mùi hương ấy đến nay vẫn còn đọng mãi trong ký ức.
Quận lỵ nhỏ bé ấy chỉ có vài dãy phố, vài tiệm buôn bán, vài quán cơm, cà phê, và một quán bi-da là nơi lui tới của các công chức và thầy cô giáo trẻ.
Đời sống ở đây giản dị, nhưng rất đỗi thân tình.
Hầu hết thầy cô đều từ các nơi xa như Ban Mê Thuột, Huế, Quy Nhơn được chuyển đến.
Cơm quán là nơi gặp gỡ mỗi ngày. Quán ăn trước cổng trường của bà Hương có cô con gái còn rất trẻ, tươi tắn và vui tính; mấy thầy độc thân thường nấn ná mãi không chịu về, chỉ để được nghe cô nói đôi câu chuyện nhỏ.
Những buổi trưa hè, tiếng cười, tiếng ly chạm nhau, tiếng ve râm ran hòa lẫn – tạo nên một bức tranh thanh xuân rực rỡ giữa vùng cao nguyên yên bình.
Trường Trung học tỉnh hạt Buôn Hô lúc tôi nhận nhiệm sở chỉ có 8 dãy phòng học.
Sau khi khảo sát tình hình, tôi xin Nha Giáo dục cho xây thêm 4 phòng để đáp ứng số học sinh ngày càng đông.
Lúc đầu, trường thuộc Nha Giáo dục Đặc trách Cao nguyên (dưới quyền Bộ Giáo dục), đến năm 1974, được chuyển hẳn trực thuộc Bộ Giáo dục Việt Nam Cộng hòa.
Trường tuy nhỏ nhưng nề nếp, học sinh chăm ngoan, tinh thần hiếu học rõ rệt.
Đa số học sinh là người Kinh, nhưng cũng có khoảng 30% là học sinh dân tộc thiểu số – Êđê, M’nông, Jarai.
Các em rất lễ phép, hiền lành, chân chất; mỗi sáng đến trường vẫn còn mang theo hương rừng, mùi khói bếp và ánh mắt trong veo.
Chúng tôi luôn cố gắng để các em hòa nhập, học chữ, học tiếng Việt, và giữ vững lòng tự tin của mình.
Phụ huynh ở Buôn Hô thời ấy rất quý thầy cô, xem nhà giáo như người thân trong nhà.
Nhiều phụ huynh nói với tôi bằng giọng thật tình:
“ Nếu thầy muốn, tụi tui cày bừa đất, gieo đậu cho qua mùa mưa vài tháng là có thu hoạch vì đất bazan ở đây rất tốt . Biết những phụ huynh này tốt nhưng không thể vì không muốn lợi dụng họ .
Một câu nói mộc mạc, mà chứa cả cái tình của người dân cao nguyên – những con người lam lũ nhưng thẳng thắn, biết quý trọng tri thức và nghĩa đạo.
Thời gian ở Buôn Hô là quãng đời ấm áp nhất trong đời dạy học của tôi.
Mỗi buổi sáng, nhìn học sinh xếp hàng ngay ngắn, quốc kỳ tung bay giữa sương sớm, lòng tôi dâng lên niềm tự hào lạ lùng – cảm giác được góp một phần nhỏ bé cho tương lai của đất nước, giữa thời cuộc đầy biến động.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét